I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi ở bên dưới [1] Kiểu người đáng thương nhất trong đời là người luôn than vãn với bất cứ điều gì không vừa ý. Chơi với người mắc bệnh than cũng là một thử thách sự kiên nhẫn và chịu đựng của bạn, và tôi cá rằng rất khó khăn
1. Đọc lại các bài văn nghị luận đã học (Bài 20, 21, 23, 24) và điền vào bảng kê theo mẫu dưới đây: Cột 6: Phương pháp lập luận. 2. Nêu tóm tắt những nét đặc sắc nghệ thuật của mỗi bài nghị luận đã học. 3. a) Trong Chương trình Ngữ văn lớp 6 và học kì I lớp 7
Dạy đọc VBNL với sách ngữ văn 6 và ngữ văn 7, giáo viên nên tổ chức 3 hoạt động chính: Thứ nhất, tổ chức cho học sinh đọc kỹ VBNL trong sách giáo khoa, tìm hiểu các từ ngữ khó như là đọc các văn bản khác; không cần đi sâu vào tìm hiểu tác giả bài nghị luận. Thứ
I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi ở bên dưới . Hành trình đến bất cứ kết quả nào – dù là một kỹ năng tuyệt vời hay một cách sống tốt đẹp – cũng quan trọng ngang bằng với đích đến của nó (nếu không nói là quan trọng hơn).
I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi ở bên dưới Hành trình đến bất cứ kết quả nào – dù là một kỹ năng tuyệt vời hay một cách sống tốt đẹp – cũng quan trọng ngang bằng với đích đến của nó (nếu không nói là quan trọng hơn). Có một điều tôi mong bạn hãy suy ngẫm
Mục lục. Những bài văn nghị luận lớp 7 mẫu gồm các bài văn nghị luận chứng minh và giải thích được biên soạn bám sát theo chương trình học để các em tham khảo. Ngoài các bàn văn nghị luận lớp 7 hay, các em cũng có thể xem thêm nhiều bài văn mẫu lớp 7 khác tại Đọc
Nghị luận là một thể loại văn học mà học sinh đã được học ở những năm cuối cấp trung học cơ sở. Chương trình Ngữ Văn lớp 10 thì văn nghị luận có thể xuất hiện trong bất kỳ kì thi nào. Hầu hết là những dạng bài văn nghị luận về các vấn đề xã hội.
Tiêu đề văn bản: V/v đảm bảo học sinh lớp 6, lớp 7, lớp 10 tại các Cơ sở giáo dục phổ thông có đủ sách giáo khoa sử dụng trong năm học 2022-2023: Số hiệu: 863/SGDĐT-GDTrH&TX: Cơ quan ban hành: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Tháp: Phạm vi-Ngày ban hành: 23/06/2022: Ngày
. Cô Thu Trang chia sẻ, để làm tốt văn nghị luận, học sinh cần trang bị kiến thức xã hội để đưa ra căn cứ, lí lẽ thuyết phục. Cô Nguyễn Thị Thu Trang, giáo viên môn Ngữ văn tại Hệ thống Giáo dục HOCMAI cho rằng, bài văn nghị luận thuyết phục người đọc cần có căn cứ và lí lẽ thuyết phục người đọc. Để làm tốt kiểu bài văn nghị luận lớp 7, các em cần trang bị cho bản thân kiến thức xã hội tốt. Cô giáo Nguyễn Thị Thu Trang, giáo viên môn Ngữ văn tại Hệ thống Giáo dục HOCMAI. Đặc điểm của văn bản nghị luậnTheo cô Nguyễn Thị Thu Trang, văn nghị luận có thể tồn tại ở nhiều dạng văn bản khác nhau ý kiến trong cuộc họp, bình luận, phê bình, xã luận... để giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời Thu Trang đưa ra 3 đặc điểm chính của văn nghị luận như sauThứ nhất, văn nghị luận cần có các luận điểm. Đó là ý chính, quan điểm xuyên suốt cả bài viết. Thứ hai, bài văn phải có lí lẽ gồm những đạo lí, lẽ phải đã được thừa nhận, dẫn chứng gồm các sự việc, số liệu, bằng chứng làm cơ sở cho luận dụ Mạng xã hội như có ưu điểm là giúp mở rộng các mối quan hệ, con người giao lưu kết nối được nhiều hơn, sự chia sẻ làn truyền những thông tin tích cực. Bên cạnh đó, mạng xã hội cũng có những mặt hạn chế, khiến cho người sử dụng dễ bị xâm phạm quyền riêng tư, bị lừa đảo bởi những trang bán hàng không uy tín...Thứ ba, một bài văn nghị luận cần phải có sự lập luận, cách chọn lựa, sắp xếp, trình bày các luận điểm, luận cứ theo một trình tự hợp lý, rõ ràng, thuyết bài văn nghị luận gồm có 3 bước lập ý xác lập luận điểm, tìm luận cứ, xây dựng lập luận. Bố cục của bài văn nghị luận cũng gồm 3 bước Mở bài nêu vấn đề, Thân bài làm sáng tỏ vấn đề bằng những luận điểm phụ, luận cứ, Kết bài khái quát, khẳng định quan điểm.Hai phép lập luận đặc trưngCô Thu Trang cho biết, trong văn nghị luận có phép lập luận chứng minh và phép lập luận giải văn nghị luận, chứng minh là một phép lập luận đúng những lí lẽ, bằng chứng đã được thừa nhận để làm sáng tỏ quan điểm. Theo đó, các lí lẽ, bằng chứng dùng trong phép lập luận chứng minh phải được lựa chọn, thẩm tra, phân tích thì mới có sức thuyết dụ 1, đề bài "Chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ "Một cây làm chẳng nên non - Ba cây chụm lại nên hòn núi cao", hướng dẫn làm dạng bài này như sauMở bài Giới thiệu câu tục ngữ và khẳng định tính đúng bài Thứ nhất giải thích nghĩa từng từ "một cây", "ba cây", "chụm lại", "núi cao" và nghĩa cả câu, Mục đích để đề cao sức mạnh của tinh thần đoàn kết và đem lại thành hai chứng minh câu tục ngữ trên thông qua việc xét về lí và xét về thực tế. Cụ thểXét về lí đoàn kết là điều cần thiết để con người có sức mạnh, động lực phấn đấu, không đoàn kết khó có thể đạt được thành về thực tế đoàn kết là sức mạnh dẫn đến thành công đưa ra dẫn chứng về chiến đấu chống giặc ngoại xâm, lao động sản xuất.... Bên cạnh đó, sức mạnh đoàn kết còn giúp con người vững bước vượt qua những khó khăn, thách thức trong cuộc sống dẫn chứng, chương trình truyền hình "Triệu trái tim - một tấm lòng", "Việc tử tế"...Kết bài Nêu suy nghĩ về câu tục ngữ và liên hệ bài học rút ra là gì?Đối với phép lập luận giải thích, cô Thu Trang cho biết, giải thích trong văn nghị luận là làm cho người đọc, người nghe hiểu rõ các tư tưởng, đạo lí, phẩm chất, quan hệ... cần được giải thích nhằm nâng cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho con nghị luận có các cách giải thích Nêu định nghĩa, liệt kê các biểu hiện, so sánh đối chiếu, chỉ ra các mặt lợi và hại, nêu nguyên dụ 2, đề bài "Nhân dân ta có câu tục ngữ "Đi một ngày đàng học một sàng khôn". Hãy giải thích nội dung câu tục ngữ đó", hướng dẫn làm dạng bài này như sauBước 1 là bước triển khai tìm hiểu đề và tìm ý. Cụ thể, yêu cầu của đề là giải thích, vấn đề cần giải thích là "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn", lưu ý gạch dưới từ then chốt. Các ý cần triển khai giải thích nhiều mặt của vấn đề gồm nghĩa đen, nghĩa bóng, liên hệ với các câu ca dao, tục ngữ tương tự. Học sinh lưu ý tra từ điển, suy nghĩ kĩ, hỏi người hiểu biết 2 là lập dàn bài Giới thiệu câu tục ngữ với ý nghĩa sâu xa là đúc kết kinh nghiệm thể hiện khát vọng đi nhiều nơi để mở rộng hiểu bài Triển khai việc giải thích. Nghĩa đen "Đi một ngày đàng" nghĩa là gì? "Một sàng khôn nghĩa" là gì?. Nghĩa bóng là Đi đây đó thì mở rộng tầm hiểu biết, khôn ngoan từng trải. Nghĩa sâu Khát vọng của người nông dân xưa muốn mở rộng tầm hiểu biết. Liên hệ thêm các câu "Đi một buổi chợ, học một mớ môn", "Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn".Ở phần này, các em cần thao tác chứng minh Chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ này trong đời sống. Tuy nhiên thao tác chứng minh chỉ cần 1-2 dẫn chứng minh họa, còn quan trọng vẫn là thao thác giải bài Câu tục ngữ xưa vẫn còn ý nghĩa cho đến ngày hôm thêm phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội lớp 7 tại đây.Nguồn HOCMAI
Kiểu bài nghị luận nói chung và kiểu bài nghị luận chứng minh nói riêng là khó đối với học sinh THCS, nhất là đối với học sinh lớp 7. Có rất nhiều lý do, theo tôi là lý do những năm học tiểu học, học lớp 6 các em đang quen với kiểu văn sáng tác, kể chuyện, biểu cảm…PHẦN II NỘI DUNGA. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu và cơ sở để xây dựng hệ thống bài tậpB. Một số bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn chứng minhPhần I LÝ DOTrong khi nói hoặc viết ta không thể thuyết phục người khác nếu ta không chứng minh được điều ta nói là có lí, là đúng, là xác đáng…Do vậy, chứng minh là một thao tác nghị luận không thể thiếu trong bất kì hệ thống lập luận nào dù phát biểu cảm nghĩ hay phân tích, dù giải thích hay bình luận thì trong các kiều bài ấy vẫn có chứng minh. Với tư cách là một kĩ năng quan trọng, kiểu bài nghị luận chứng minh có thể coi là kiểu bài cơ sở để học sinh làm tốt các kiểu bài nghị luận khác. Chứng minh còn là kiểu bài để rèn luyện và phát huy khả năng trình bày rõ ràng, mạch lạc, thuyết phục một vấn đề trong cuộc sống của học sinh. Vậy mà, cũng như các kiểu bài Tập làm văn khác, chứng minh không được học sinh yêu thích cho lắm. Tập làm văn đã và đang là môn học đáng ngại nhất đối với đa số học đang xem đoạn văn nghị luận lớp 7Có thể nói một cách khách quan, kiểu bài văn nghị luận nói chung và kiểu bài nghị luận chứng minh nói riêng là khó đối với học sinh THCS, nhất là đối với học sinh lớp 7. Có rất nhiều lý do, theo tôi là lý do những năm học tiểu học, học lớp 6 các em đang quen với kiểu văn sáng tác, kể chuyện, biểu cảm… và phải chăng cũng có một lí do nữa là ở cách dạy của giáo viên bắt học sinh học hàng đống khái niệm, yêu cầu, chú ý, ghi nhớ…làm cho các em thấy kiểu bài này thật là xa lạ và rắc rối. Vậy làm thế nào để học sinh có thể viết được một bài văn chứng minh đúng và hay? Câu hỏi đó luôn làm tôi trăn trở mỗi khi giảng dạy kiểu bài nghị luận chứng minh. Để có được một bài văn chứng minh hoàn chỉnh, học sinh được luyện từng kỹ năng với những thao tác cụ thể. Muốn vậy cần có một hệ thống bài tập tốt vừa sức, từ đơn giản đến khó. Qua những bài cụ thể ấy, các em sẽ hiểu rõ hơn mình cần phải làm gì, làm như thế nào để đạt yêu cầu. Tất nhiên, cái đích của các em vẫn là viết một bài văn nghị luận chứng minh hoàn chỉnh. Song thiết nghĩ các em đã được luyện có kỹ năng viết đoạn văn chứng minh đủ, đúng và hay thì con đường đi đến cái đích ấy không mấy khó những suy nghĩ trăn trở đó, tôi mạnh dạn trình bày một số kinh nghiệm nhỏ của mình trong việc dạy kiểu bài nghị luận chứng minh với đề tài “Bài tập rèn kỹ năng viết đoạn văn chứng minh cho học sinh lớp 7”. Với việc áp dụng phương pháp này tôi đã đạt được kết quả khả quan hơn so với 2 năm trước đây. Song đề tài mang tính chất phương pháp cá nhân nên không tránh khỏi sai sót, tôi rất mong nhận đước sự góp ý của đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện II NỘI DUNGA. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu và cơ sở để xây dựng hệ thống bài tập tượng nghiên cứu– Học sinh khối 7 trường THCS Lê Lợi năm học 2009 – 2010 và năm học 2010 – 2011II. Phương pháp nghiên cứu– Dùng phương pháp hệ thống.– Dùng phương pháp đối sánh giữa thực tiễn dạy- học với lý luận dạy học.– Dùng phương pháp phân tích – tổng hợp.– Dùng phương pháp tích hợp, phối hợp với các phân môn, môn học khác.– Dùng phương pháp thuyết minh…III. Cơ sở để xây dựng hệ thống bài tập 1. Cơ sở lí luận.– Trong các phân môn của bộ môn Ngữ văn, Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong quá trình học tập và thi cử. Dạy Văn và tiếng Việt là khó, dạy Tập làm văn lại có những cái khó riêng. Bởi vì, hơn bất cứ phân môn nào, ở đây giáo viên phải đặc biệt coi trọng chủ thể trò, giữ đúng vai trò người hướng dẫn, điều chỉnh để hoạt động tư duy và kỹ năng thực hành của học sinh đi đúng hướng nhằm tiến tới viết hoặc nói được văn bản quy định trong chương đảm bảo tính thực hành giáo viên có nhiều hình thức tổ chức hoạt động cho học sinh với nhiều dạng bài tập và có không ít những biện pháp thúc đẩy hoạt động tích cực của học sinh. Chẳng hạn từ quan sát, bắt chước, nhận biết đến sáng tạo. Trong sáng tạo cũng từ sáng tạo bộ phận đến sáng tạo toàn thể. Dù xây dựng hệ thống bài tập nào cũng luôn nắm vững nguyên tắc từ bài tập dẫn học sinh rút ra phương pháp làm bài tập làm văn, dùng bài tập để luyện kỹ năng cụ có thể làm được một bài văn hoàn chỉnh, học sinh cần luyện cách tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn và liên kết đoạn, trong đó kỹ năng viết đoạn là cơ bản nhất. Bởi một bài văn nghị luận chứng minh gồm nhiều đoạn văn, những đoạn văn ấy cùng hướng vào làm sáng tỏ vấn đề cần chứng minh. Và điều quan trọng là không phải cách viết đoạn văn nào cũng giống nhau mà phụ thuộc vào yêu cầu, chức năng, vai trò của đoạn văn để có cách viết phù hợp. Qua đoạn văn chứng minh cụ thể, làm cho học sinh có được thao tác chứng minh nêu luận điểm câu chốt, cách đưa và sắp xếp dẫn chứng, cách phân tích dẫn chứng… một cách rõ ràng, mạch lạc, có sức hấp dẫn và thuyết phục. Đó chính là những yếu tố cơ bản của kiểu bài nghị luận chứng tóm lại, không thể có một bài văn chứng minh đúng và hay nếu như không dạy các em kỹ năng viết đoạn văn chứng Cơ sở thực tiễn.– Chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 7 đã thể hiện được yêu cầu tích hợp ba phân môn Văn – Tiếng việt – Tập làm văn, tuy nhiên vẫn phải luôn tạo điều kiện cho việc đảm bảo yêu cầu riêng có tính chất tương đối độc lập của mỗi phân môn. Kiểu bài nghị luận chứng minh chương trình Ngữ văn 7 dành 4 bài với thời lượng là 5 tiếtTiết 87, 88 Tìm hiểu chung về phép lập luận chứng 91 Cách làm bài văn nghị luận chứng 92 Luyện tập lập luận chứng 100 Luyện tập viết đoạn văn chứng vào chương trình và quá trình thực dạy, tôi nhận thấy chương trình có hướng đổi mới đó là chú ý đến kỹ năng thực hành luyện kỹ năng cho học sinh để có thể viết được một bài văn chứng minh.– Trong thực tế, việc viết đoạn văn của học sinh còn rất kém, nhất là văn nghị luận đối với các em học sinh lớp 7 – vốn đã quen với những đoạn văn tự sự, miêu tả, biểu cảm. Trong giờ dạy, giáo viên yêu cầu viết đoạn văn là các em rất ngại thậm chí ngại hơn viết cả bài. Vì viết cả bài không được ý nọ còn được ý kia, còn nếu viết đoạn mà không biết cách viết sẽ không thành một đoạn văn cụ thể là đoạn văn chứng minh theo yêu cầu.– Với người giáo viên, sách giáo khoa vẫn là tài liệu quan trọng. Sách giáo khoa cung cấp cho người học những nguyên tắc, yêu cầu cần phải đạt tới của kiểu bài, của từng kỹ năng. Cho nên, vận dụng tốt sách giáo khoa là yêu cầu mà tất cả các giáo viên phải thực hiện. Vì vậy, tôi đã nghiên cứu kỹ sách giáo khoa và đặt ra tiêu chí khi dạy bài nghị luận chứng minh+ Coi từng tiết dạy mà sách giáo khoa đã chia và sắp xếp theo từng bài là yêu cầu cần đạt của học sinh.+ Bài tập nào của sách giáo khoa tốt thì tôi sử dụng khai thác, bài tập nào chưa hay thì không bắt buộc học sinh phải làm.+ Tôi quan niệm bài tập rèn kỹ năng viết đoạn tốt phải vừa sức với tâm lý và nhận thức của lứa tuổi học sinh, phải thể hiện được tính chất, yêu cầu tích hợp của bộ trên những cơ sở đó, tôi xác lập một hệ thống bài tập cụ thể như sauI. Bài tập nhận biết đoạn văn chứng Bài tập luyện viết đoạn văn theo chức năng đoạn mở bài, đoạn kết Bài tập luyện các kỹ năng cơ bản để viết đoạn văn chứng minh1. Bài tập chọn dẫn Bài tập sắp xếp dẫn Bài tập phân tích dẫn Bài tập diễn Bài tập chữa lỗi bài tập chữa lỗi sai như sai về dẫn chứng, sai về diễn đạt, trình bày…, tôi kết hợp đưa vào cùng với các dạng bài hệ thống bài tập như trên, tôi sử dụng để– Vào bài mới.– Dạy trên lớp – củng cố lý thuyết.– Giao bài về nhà để học sinh luyện Một số bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn chứng minhTrước khi luyện viết đoạn văn, học sinh đã được rèn kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý cho một bài văn chứng minh cụ thể. Chính vì vậy, ở phần này, tôi chỉ đưa ra hệ thống bài tập với mục đích rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn chứng Bài tập nhận biết đoạn văn chứng minhThực tế, học sinh đã biết một đoạn văn qua tìm hiểu các văn bản giờ văn học, qua các tiết học tiếng Việt với yêu cầu viết đoạn văn. Nhưng với học sinh lớp 7, chưa có tiết học dành riêng cho việc tìm hiểu thế nào là đoạn văn. Vì vậy, để giúp các em hiểu rõ, nắm vững thế nào là đoạn văn, tôi ra dạng bài tập nàyBài tập 1 Những tập hợp sau đây có thể coi là đoạn văn không?a. Hồ Chí Minh là một trong những tên tuổi sáng ngời nhất của dân tộc Việt Nam. “Những trò lố hay Va ren và Phan Bội Châu” là tác phẩm viết bằng tiếng Pháp của Bài thơ “Qua đèo Ngang” là bức tranh đẹp về một vùng non nước. Cụm từ “Ta với ta” tả nỗi buồn của một con người, cảm thấy lẻ loi, cô đơn giữa một không gian bao la trời mây nước. Đọc “Qua đèo Ngang” ta được thấy phong cách thơ trang nhã, điêu luyện rất tiêu biểu cho thơ Đường luật của Bà Huyện Thanh Gần trưa, chúng tôi mới đến trường học, tôi dắt em đến lớp 4B, cô giáo Tâm đang giảng bài. Chúng tôi đứng nép vào gốc cây trước cửa lớp, em cắn chặt môi im lặng, mắt lại đăm đăm nhìn khắp sân trường từ cột cờ đến tấm bảng tin và những vạch than vẽ ô ăn quan trên hè gạch. Rồi em bật khóc thút thít.Khánh Hoài – Ngữ văn 7Hướng dẫn Học sinh sẽ nhận ra cả ba tập hợp trên xét về hình thức là đoạn văn. Xét về nội dung a, b chưa đảm bảo.+ Hai câu văn tập hợp a chưa có sự liên kết.+ Tập hợp b có vẻ mang dáng dấp của một đoạn văn khá rõ với câu đầu tiên như là một câu có vai trò mở ra đề tài của đoạn. Nhưng những câu viết sau không gắn bó gì với đề tài ấy mặc dù cả 3 câu đề viết về bài thơ Qua đèo Ngang.Chỉ có tập hợp c xét về cả nội dung và hình thức đảm bảo là một đoạn văn nội dung kể việc anh em Thuỷ, Thành đến trường chia tay cô giáo.Giáo viên chốt cung cấp kiến thức Vậy đoạn văn là thế nào?“Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành.”Ngữ văn 8- tập IKhi đã có khái niệm về đoạn văn, các em cần phân biệt đoạn văn chứng minh khác với các đoạn văn khác nên tôi đưa bài tập 2Bài tập 2 Chọn đáp án đúng “Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thân mến. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng Giêng. Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhuỵ vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông đầu giêng nhưng trái lại, lại nức mùi hương man mác.” Mùa xuân của tôi-Vũ BằngA. Đoạn văn tự Đoạn văn miêu Đoạn văn biểu Đoạn văn chứng “Lịch sử ta có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta. Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng.”Tinh thần yêu nước củanhân dân ta-Hồ Chí Minh A. Đoạn văn tự Đoạn văn miêu Đoạn văn chứng Cả 3 A, B, dẫnHọc sinh chọn đáp án C cho cả 2 đoạn.– Với a giáo viên muốn nhắc lại cho học sinh về một đoạn văn biểu cảm.– Với b giáo viên giúp các em nhận rõ đây là đoạn văn chứng văn chứng minh thường nêu lên một ý kiến và có những dẫn chứng, lý lẽ làm rõ ý kiến Bài tập luyện viết đoạn văn theo chức Luyện viết đoạn mở khi học kiểu bài nghị luận chứng minh, học sinh đã được học, được làm bài tập làm văn hoàn chỉnh như kiểu bài tự sự, miêu tả, biểu cảm. Đến kiểu bài chứng minh, cách viết có nhiều điểm khác và viết mở bài cũng có những yêu cầu khác phù hợp với kiểu bài nghị luận chứng minh. Như đã trình bày ở phần đầu kiểu bài chứng minh là cơ sở cho các kiểu bài nghị luận khác. Vì vậy, việc rèn kỹ năng viết đoạn văn mở bài là điều cần thiết và sẽ là điều kiện thuận lợi cho học sinh làm các kiểu bài nghị luận sau này giải thích, phân tích, nghị luận tổng hợp….* Yêu cầu– Mở bài phải giới thiệu cho người đọc thấy rõ vấn đề sẽ chứng minh trong bài.– Mở bài nên gọn, tự nhiên, phù hợp với bài viết, gây được tâm thế cho cả người viết và người “Cách làm bài văn nghị luận chứng minh” Sách giáo khoa ngữ văn 7 có hướng dẫn ba cách mở bài sau đây+ Đi thẳng vào vấn đề.+ Suy từ cái chung đến cái riêng.+ Suy từ tâm lý con thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy các em được làm quen với ba cách mở bài trên, nhưng khi cho đề bài khác, các em rất vất vả, khó khăn khi thực hiện yêu cầu đầu tiên đó là viết mở bài. Các em không biết bắt đầu như thế nào? Viết cái gì? Viết ra sao?…Sau khi các em làm quen với những cách mở bài trên, tôi đưa ra các đoạn văn mở bài sai để học sinh nhận ra lỗi sai. Từ đó, học sinh có thể hiểu được yêu cầu của đoạn văn mở bài và viết tập 1 Có hai đoạn mở bài cho đề chứng minh“Ca dao là tiếng hát về tình cảm gia đình đằm thắm và ngọt ngào.”a. Trong gia đình Việt Nam có những tình cảm ngọt ngào và đằm thắm. Thứ tình cảm ngọt ngào, đằm thắm thiêng liêng ấy mà hầu như ai trong mỗi con người chúng ta đều có là tình cảm gia đình. Chính vì vậy, ta có thể khẳng định rằng Ca dao là tiếng hát về tình cảm gia đình đằm thắm và ngọt thêm Ví Dụ Không Phải Tế Bào Nhân Thực Là, Cấu Tạo, Cấu Trúc Tế Bào Nhân Thựcb. Chúng ta được lớn lên trong tình yêu thương của gia đình. Trong lời ru của bà, của mẹ. Lòng nhân ái của cha. Những tình cảm đó được dân gian gửi gắm vào ca dao.
1 Hướng dẫn đề bài kể tên các văn bản nghị luận lớp 7. Mỗi một thể loại, loại hình văn học đều mang cho mình một ý nghĩa và giá trị riêng khi chúng tồn tại. Ta thấy được những cảm xúc dạt dào chan chứa tình cảm trong các bài văn biểu cảm, ta thấy rõ hình dung tưởng tượng cuộc sống hơn qua các bài văn tự sự.... và đặc biệt là văn nghị luận. Mang đến cho ta những suy nghĩ sâu sắc chín chắn hơn qua các câu ca dao tục ngữ. những bài học mà thể văn nghị luận sẽ giúp chúng thêm hiểu rõ về đạo lí làm người, hiểu rõ về giá trị cuộc sống để từ đó có một sự định hướng, định hình cuộc sống của mình một cách tốt đẹp hơn. Trong chương trình Ngữ văn lớp 7 ta thường hay bắt gặp đề bài kể tên các văn bản nghị luận lớp 7. Dưới đây là bài làm chi tiết mong có thể giúp các bạn học sinh định hướng làm bài một cách tốt nhất. Để làm được đề bài này các bạn cần nắm vững kiến thức về văn bản nghị luận để có thể liệt kê ra một cách hoàn chỉnh nhất. BÀI LÀM KỂ TÊN CÁC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN LỚP 7 TTTên văn bảnTác giảNội dung nghị luậnLuận điểm chínhPhương pháp nghị luận1Tinh thần yêu nước của nhân dân taHồ Chí MinhTinh thần yêu nước của dân tộc taDân ta có một lòng yêu nước nồng nàn. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc taChứng minh2Sự giàu đẹp của Tiếng ViệtĐặng Thai MaiSự giàu đẹp của tiếng ViệtTiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, thứ tiếng hayChứng minh, giải thích3Đức tính giản dị của Bác HồPhạm Văn ĐồngNhững đức tính giản dị của Bác HồNgười giản dị ở mọi phương diện. Sự giản dị kết hợp hài giữa đời sống phong phú, tư tưởng và tình cảm cao đẹpChứng minh, giải thích, bàn luận4Ý nghĩa văn chươngĐặng Thai MaiNguồn gốc, nhiệm vụ, công cụ của văn chương trong lịch sử phát triển nhân loạiNguồn gốc cốt yếu của văn chương là tình cảm, là lòng vị tha, văn chương là hình ảnh của sự sống da dạng, văn chương sáng tạo ra sự sống, gây cho ta những tình cảm không có, luyện cho ta những tình cảm có sẵn. Nên không thể thiếu văn chương trong đời sống tinh thần nhân loạiGiải thích, bình luận Chủ đề văn bản nghị luận
các văn bản nghị luận đã học ở lớp 7